Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  14,877,611

68

Hệ sinh thái và đánh giá nguồn lợi thuỷ sản

Trần Thế Mưu; Phan Minh Quý; Nguyễn Đức Tuấn; Phạm Văn Thìn; Trần Thị Mai Hương; Trần Thế Mưu(1)

Xác định các tham số sinh học của 4 loài cá biển (Chẽm, Giò, Song chấm nâu và Chim vây vàng) phục vụ đánh giá sức tải môi trường vùng nuôi

Determination of biological parameters of 4 marine fish species (sea bass, cobia, orange-spotted grouper, and short yellowfin pompano) for assessment of the holding capacity of a location

Khoa học & công nghệ Việt Nam

2022

12B

60 - 64

1859-4794

Tham số sinh học; Sức tải môi trường; Trachinotus ovatus; Tỷ lệ tiêu hóa; Vùng nuôi

Biological parameters; Environmental load capacity; Trachinotus ovatus; Digestion rate; Farming area

Thí nghiệm sinh hóa trên 4 loài cá biển nuôi phổ biến ở Việt Nam là cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790), Giò (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766), Song chấm nâu (Epinephelus coioides Hamilton, 1822) và Chim vây vàng (Trachinotus ovatus Linnaeus, 1758) được thực hiện tại đảo Cát Bà, Hải Phòng. Cá thí nghiệm có kích cỡ thương phẩm tương ứng 2, 5, 2 và 0,6 kg/con. Thí nghiệm nhằm xác định các tham số sinh học của loài nuôi (Ap, Af, Ac) và các tham số dinh dưỡng liên quan (Pp, Pf, Fp, Ff, Fc) phục vụ đánh giá sức tải môi trường vùng nuôi. Kết quả cho thấy, tỷ lệ tiêu hóa protein và chất béo trong thức ăn cá tạp của cá Chẽm tương ứng là 92,90 và 93,84%; cá Giò 91,17 và 95,53%; cá Song chấm nâu 95,20 và 96,40%. Tỷ lệ tiêu hóa protein, chất béo và carbohydrate trong thức ăn công nghiệp của cá Chim vây vàng tương ứng là 85,83, 76,47 và 13,68%. Hàm lượng protein và chất béo trong cơ thịt cá Chẽm tương ứng là 19,28 và 6,27%; cá Giò 19,13 và 13,85%; cá Song chấm nâu 17,37 và 7,32%; cá Chim vây vàng 18,31 và 15,08%. Hàm lượng protein và chất béo trong thức ăn cá tạp tương ứng là 16,99 và 7,19%. Hàm lượng protein, chất béo và carbohydrate trong thức ăn công nghiệp tương ứng là 42,01, 9,93 và 27,82%. Trong cơ thịt cá nuôi và cá tạp không có carbohydrate.

A biochemical experiment on four marine fish species commonly farmed in Vietnam, sea bass Lates calcarifer (Bloch, 1790), cobia Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766), orange-spotted grouper Epinephelus coioides (Hamilton, 1822), and short yellowfin pompano Trachinotus ovatus (Linnaeus, 1758), was carried out at Cat Ba island, Hai Phong province. The mean weight of fish used in the experiment were 2, 5, 2, and 0.6 kg.ind-1, respectively. The experiment aimed to determine the biological parameters of the farmed fish (Ap, Af, Ac) and related nutritional parameters (Pp, Pf, Fp, Ff, Fc), for assessment of the holding capacity of a location. The results showed that the apparent digestibility coefficient of protein and fat in trash fish for sea bass were 92.90%, 93.84%, respectively; cobia 91.17%, 95.53%; orange-spotted grouper 95.20%, 96.40%. The apparent digestibility coefficient of protein, fat and carbohydrate in pellet feed for short yellowfin pompano were 85.83, 76.47, and 13.68%, respectively. The protein content and fat content in the muscle of sea bass were 19.28%, 6.27%; cobia 19.13%, 13.85%; orange-spotted grouper 17.37%, 7.32%; and short yellowfin pompano 18.31%, 15.08%, respectively. The protein content and fat content of trash fish were 16.99%, 7.19%, respectively. The proportion of protein, fat and carbohydrate of pellet feed were 42.01, 9.93, and 27.82%, respectively. There are no carbohydrates in the muscle of farmed fish as well as trash fish.

TTKHCNQG, CVv 8