Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  14,927,668

76

Thần kinh học lâm sàng

Nguyễn Đăng Hải; Nguyễn Duy Bắc; Nguyễn Văn Điều; Phạm Thành Nguyên; Lâm Khánh; Nguyễn Duy Bắc(1)

Đặc điểm một số thông số của bó vỏ tuỷ trên cộng hưởng từ sức căng khuếch tán ở bệnh nhân Alzheimer người Việt Nam

Features of corticospinal tract in diffusion tensor imaging of 25 Vietnamese Alzheimer patients

Tạp chí Y dược lâm sàng 108

2023

02

132-137

1859-2872

Bó vỏ-tuỷ; Alzheimer

Corticospinal tract; Diffusion tensor imaging; Alzheimer disease; Viet Nam

Nghiên cứu nhằm mô tả một số đặc điểm bó vỏ-tuỷ của bệnh nhân Alzheimer (AD) trên cộng hưởng từ sức căng khuếch tán (DTI). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang. Tái tạo hình ảnh đường dẫn truyền bó vỏ-tuỷ của 25 bệnh nhân Alzheimer người Việt Nam trên cộng hưởng từ sức căng khuếch tán. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 68,64 ± 7,90 năm, cao nhất là 84 tuổi, thấp nhất là 56 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ là 10/15, tuổi trung bình ở bệnh nhân AD nam: 66,60 ± 8,09 năm, nữ: 70,00 ± 7,74 năm, không có sự khác biệt giữa hai giới có ý nghĩa thống kê về độ tuổi (p=0,30). Giá trị trung bình số lượng sợi,chiều dài, chỉ số Voxel và ADC của bó vỏ tuỷ 2 bên (phải; trái) lần lượt là: 238,84 ± 130,68 sợi và 228,00 ± 108,92 sợi; 109,44 ± 17,57mm và 110,34 ± 18,74mm; 484,24 ± 151,48 voxel và 516,20 ± 188,46 voxel; 0,89 ± 0,13 và 0,86 ± 0,14 không có sự khác biệt (p>0,05). Chỉ số FA của bó vỏ tuỷ bên phải nhỏ hơn bên trái (0,47 ± 0,03 và 0,48 ± 0,03), có ý nghĩa thống kê: p=0,005. Kết luận: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng: Tái tạo bó vỏ-tuỷ bằng DTI ở bệnh nhân Alzheimer người Việt Nam hứa hẹn mang lại hữu ích trong nghiên cứu tổn thương chất trắng. Cần thêm các nghiên cứu so sánh với nhóm người khoẻ mạnh.

To reconstruct the characteristics of corticospinal tract (CST) in Vietnamese Alzheimer patients (AD) by using Diffusion tensor imaging (DTI). Subject and method: A cross-sectional study. We reconstructed the white matter (WH) fibers of CST of 25 Vietnamese Alzheimer patients using DTI. Result: The mean (± SD) age of AD patient was: 68.64 ± 7.90, the max age was: 84 years, the min age was: 56 years; Male/female: 10/15, the mean (±SD) age of male/female was: 66.60 ± 8.09/70.00 ± 7.74 years, no significant difference between male and female (p=0.30). The mean (±SD) number and length of fibers, voxel, ADC of CST in both sides (right and left) were: 238.84 ± 130.68 fibers and 228.00 ± 108.92 fibers; 109.44 ± 17.57mm and 110.34 ± 18.74mm; 484,.24 ± 151.48 voxels and 516.20 ± 188.46 voxels; 0.89 ± 0.13 and 0.86 ± 0.14, no significant difference (p>0,05). The mean (±SD) FA of CST in both sides (right and left): 0.47 ± 0.03 and 0.48 ± 0.03, a significant difference: p=0.005. Conclusion: The results suggest that: Reconstructing CST by using DTI would have potential benefits in demonstrating the abnormal of white matter integrity in Vietnamese AD patients. More comparative studies with healthy subjects are needed.

TTKHCNQG, CVv 337