Xạ khuẩn được nghiên cứu nhiều do khả năng sinh ra các hợp chất thứ cấp có giá trị ứng dụng cao, đặc biệt là khả năng sinh kháng sinh của chúng. Hơn 40% kháng sinh được tìm ra đều có nguồn gốc từ xạ khuẩn trong đó chi Streptomyces chiếm ưu thế. Hơn nữa, xạ khuẩn biển trong những năm gần đây được quan tâm nhiều nhờ có khả năng sinh các chất có hoạt tính sinh học có khả năng cung cấp các cấu trúc hoá học đa dạng và mới lạ. Trong nghiên cứu này từ 8 mẫu trầm tích biển thu thập ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh), chúng tôi đã phân lập được 20 chủng xạ khuẩn bằng bảy loại môi trường khác nhau (A1, M1, SWA, SCA, NZSG, ISP1, ISP2). Các chủng được lên men trong môi trường A1+, dịch lên men được chiết 5 lần với ethyl acetate, thu hồi cặn chiết và xác định hoạt tính kháng khuẩn và gây độc tế bào. Từ kết quả sàng lọc đã chọn được 2 chủng có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất và có khả năng gây độc tế bào cao nhất ký hiệu là: HT03 và HT06. Cả 2 chủng đều có hoạt tính đối kháng với Enterococcus faecalis ATCC29212 (MICHT03= 32 μg/mL, MICHT06= 16 μg/mL), Stapphylococus aureus ATCC25923 (MICHT03= 64 μg/mL, MICHT06= 32 μg/mL) và Bacillus cereus ATCC 13245 (MIC= 16 μg/mL). Ngoài ra 2 chủng HT03 và HT06 còn có khả năng ức chế khá mạnh nấm men Candida albicans ATCC10231 với MICHT03= 16 μg/mL, MICHT06= 8 μg/mL. Đặc biệt hai chủng HT03 và HT06 đều thể hiện hoạt tính gây độc rất tốt trên cả 5 dòng tế bào ung thư (tế bào ung thư vú MCF-7; MDA-MB-231; tế bào ung thư phổi NCI-H1975; tế bào ung thư cổ tử cung HeLa; tế bào ung thư dạ dày AGS) ở cả hai nồng độ thử nghiệm 30 μg/mL và 100 μg/mL. Hai chủng đã được nghiên cứu các đặc điểm hình thái nuôi cấy và phân tích trình tự gen 16S rRNA, kết quả cho thấy chủng HT03 thuộc loài Streptomyces fradiae có độ tương đồng 99,93% với chủng Streptomyces fradiae ATCC và chủng HT06 thuộc loài Nocardiopsis synnemataformans có độ tương đồng 99,89% với chủng chuẩn của Nhật Bản Nocardiopsis synnemataformans DSM 44143 (NBRC 102581).