Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  14,929,413

Trần Thành Thái , Nguyễn Thị Mỹ Yến , Ngô Xuân Quảng , Lê Diệu Linh; Trần Thành Thái(1)

Đánh giá chất lượng môi trường sinh thái nền đáy trong các ao nuôi tôm sinh thái ở tỉnh Cà Mau bằng áp dụng phương pháp ABC (Abundance/Biomass Comparison) lên quần xã tuyến trùng

Assessment of the ecological quality status of sediment at the organic shrimp farming ponds in Ca Mau province by applying the abundance/biomass comparison (ABC) method on nematode communities

Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ: Chuyên san Khoa học Tự nhiên

2018

3

Quần xã tuyến trùng tại 8 ao nuôi tôm sinh thái tại xã Tam Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau được khảo sát trong 3 mùa (tháng 3 – mùa khô, tháng 7 – chuyển mùa và tháng 11 – mùa mưa). Kết quả cho thấy mật độ trung bình của quần xã (cá thể/10 cm2) dao động từ 221,67 ± 122,08 đến 2539,33 ± 1403,33 trong mùa khô. Chuyển mùa và mùa mửa cũng ghi nhật mật độ cao (1020,00 ± 354,30 đến 7254,67 ± 5454 và 39, 822,00 ± 1086,17 – 4608,33 ± 1302,02, tương ứng). Tổng sinh khối khô trung bình (μg/10 cm2) của quần xã tuyến trùng trong các ao tôm từ 51,11 ± 28,64 đến 450,87 ± 49.53 ở mùa khô, từ 412,93 ± 291,87 đến 1607,25 ± 507,42 ở chuyển mùa và từ 49,54 ± 39,36 đến 1874,09 ± 3033,16 trong mùa mưa. Phương pháp ABC (Abundance/Biomass Comparison) đã được áp dụng thành công trong đánh giá chất lượng môi trường sinh thái nền đáy trong 8 ao tôm sinh thái. Kết quả ghi nhận hầu hết các ao trong 3 mùa khảo sát có hệ sinh thái nền đáy đang bị xáo trộn nhẹ (stressed). Tuy nhiên, chuyển mùa có chất lượng nền đáy tốt nhất trong 3 mùa khảo sát. Mặc dù kết quả đánh giá được hiện trạng sinh thái nền đáy ở các ao tôm nhưng nguyên nhân gây ra sự xáo trộn đó do điều kiện tự nhiên tác động hay do ô nhiễm còn chưa được sáng tỏ.

Received 05-01-2017, accepted 14-08- 2017, published 12-9-2018 Author Tran Thanh Thai, Nguyen Thi My Yen, Ngo Xuan Quang- Department of Environmental Management and Technology, Institute of Tropical Biology, Vietnam Academy of Science and Technology, Le Dieu Linh - Ton Duc Thang University - thanhthai.bentrect@gmail.comNematode communities in the Tam Giang’s organic shrimp farming ponds, Nam Can district, Ca Mau province were investigated in three seasons (March - dry, July - transfer and November - rainy season). Results showed that the average abundance (inds/10 cm2) ranged from 221.67 ± 122.08 to 2539.33 ± 1403.33 in the dry season. The tranfers and rainy season also showed a high density, from 1020.00 ± 354.30 to 7254.67 ± 5454.39, 822.00 ± 1086.17 – 4608.33 ± 1302.02, respectively. Total dry biomass (μg/10 cm2) of nematode communities in Tam Giang’s organic shrimp farming ponds varied from 51.11 ± 28.64 to 450.87 ± 49.53 in the dry, from 412.93 ± 291.87 to 1607.25 ± 507.42 in the transfer and ranged 49.54 ± 39.36 to 1874.09 ± 3033.16 in the rainy season. The following results were also recorded that abundance/biomass comparison (ABC) method has been used successfully for detecting the ecological quality status of sediment (EcoQ) in Tam Giang’s organic shrimp farming ponds. The results indicated that unfavourable deflections (stress) in EcoQ of Tam Giang’s organic shrimp farming ponds throughout the dry - transfer - rainy season. More specifically, the EcoQ of Tam Giang’s organic shrimp farming ponds has been classified as lightly stressed in most seasons, excpet for the transfer season which has been recognized as the highest EcoQ depending on its ABC curves and W values. Although EcoQ in the Tam Giang’s organic shrimp farming ponds has always been clear, information onthe main cause effected biomass between natural stress or pollution stress remains uncertain.