



87
Thực vật học
BB
Dang Thi Phuong Ly, Dang Thi Minh Tuyet, Dao Thi Kim Dung, Nguyen Thi Nga, Pham Minh Quan, Pham Quoc Long; Phạm Minh Quân(1); Phạm Minh Quân(2);
Nghiên cứu thành phần lipid và acid béo của cây anana Thelenota thu hái ở đảo Bái Đông, Vịnh Hạ Long, Việt Nam
Study on lipid and fatty acid composition of Thelenota ananas collected from Bai Dong Island, Ha Long Bay, Vietnam
Khoa học và Công nghệ Biển
2024
01
167-173
1859-3097
Nghiên cứu; Thành phần lipid; Acid béo; Cây anana Thelenota; Thu hái;
Lipid, fatty acids, Thelenota ananas, molecular species
Bài báo nghiên cứu thành phần lipid và axit béo của hải sâm Thelenota anana thu hái ở đảo Bái Đông, Vịnh Hạ Long, Việt Nam. Hàm lượng lipid tổng trong khối lượng mẫu khô tương đối cao (11,89%). Triacylglycerol TG có nồng độ cao nhất trong lipid tổng số với tỷ lệ lên tới 66,73%; lớp PL và PI không có sự khác biệt đáng kể với tỷ lệ 13,44 và 11,65% trong lipid tổng số. Hai loại sterol ST, hydrocarbon-sáp HW và axit béo tự do FFA chiếm tỷ lệ nhỏ. Hai loại phospholipid chính là PC và PE, với tỷ lệ lần lượt là 47,10% và 33,29% tổng lượng phospholipid. Có 36 axit béo được xác định, trong đó axit béo bão hòa tổng số (SFA) chiếm 41,61%; Axit béo không bão hòa đơn (MUFA) chiếm 32,15% và axit béo không bão hòa đa (PUFA) chiếm 25,63%; các axit béo chủ yếu là axit stearic (18:0) chiếm 13,15% tổng lượng axit béo; 16:1n-9 chiếm 14,87% và axit béo EPA 20:5n-3 chiếm 15,3% tổng lượng axit béo. Trong số các axit béo, n-9 (omega 9) chiếm tỷ trọng cao nhất với 25,16%; axit béo n-3 (omega 3) chiếm 18,43%; Axit béo n-6 (omega 6), n-7 (omega 7) lần lượt chiếm 5,8 và 6,5%. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ n3/n6 của mẫu hải sâm Thelenota ananas là 3,18%, phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là tỷ lệ n3/n6 ≥ 0,1%. Nó được xếp vào loại thực phẩm tốt cho sức khỏe con người; do đó, có thể coi đây là nguồn thực phẩm có thể sử dụng để phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
The paper studies the lipid and fatty acid composition of the sea cucumber Thelenota ananas collected on Bai Dong Island, Ha Long Bay, Vietnam. The total lipid content of dry sample weight was relatively high (11.89%). The triacylglycerol TG has the highest concentration in total lipids with a ratio of up to 66.73%; the PL and PI classes do not have a significant difference with the proportions of 13.44 and 11.65% in total lipids. Two classes of sterol ST, hydrocarbon-wax HW and free fatty acid FFA account for a small proportion. The two main classes of phospholipids are PC and PE, with a ratio of 47.10% and 33.29% of total phospholipids. There are 36 fatty acids identified, of which total saturated fatty acids (SFA) account for 41.61%; Monounsaturated fatty acids (MUFA) account for 32.15%, and polyunsaturated fatty acids (PUFA) account for 25.63%; the main fatty acids are stearic acid (18:0) accounting for 13.15% of the total fatty acids; 16:1n-9 accounts for 14.87%, and 20:5n-3 EPA fatty acids account for 15.3% of the total fatty acids. Among the fatty acids, n-9 (omega 9) accounts for the highest proportion with 25.16%; n-3 fatty acids (omega 3) account for 18.43%; n-6 (omega 6), n-7 (omega 7) fatty acids account for 5.8 and 6.5%, respectively. In this study, the n3/n6 ratio of the sea cucumber sample Thelenota ananas was 3.18%, consistent with the evaluation standards of the World Health Organization (WHO) of n3/n6 ratio ≥ 0.1%. It is classified as a good foodstuff for human health; therefore, it can be considered a source of food that can be used to serve community health care needs.
TTKHCNQG, CVv 280