Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  14,929,203

Nuôi trồng thuỷ sản

Dương Thúy Yên; La Nghĩa Lê Thanh; Huỳnh Thị Trúc Ly; Nguyễn Thị Ngọc Trân; Dương Thúy Yên(1)

Ảnh hưởng của nguồn cá bố mẹ và kích cỡ ban đầu đến tăng trưởng của cá trê vàng (Clarias macrocephalus) giống

Effects of broodstock origin and the initial size on growth and survival rates of bighead catfish (Clarias macrocephalus) fingerlings

Khoa học (Đại học Cần Thơ)

2021

2

135-141

1859-2333

Cá trê vàng; Kích cỡ; Nguồn bố mẹ; Tăng trưởng; Tỉ lệ sống

Broodstock sources; Clarias macrocephalus; Growth; Size; Survival

Đề tài này thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của nguồn cá bố mẹ và kích cỡ cá con ban đầu đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá trê vàng giai đoạn ương từ hương lên giống để làm cơ sở cho chọn giống cá trê vàng. Ba nguồn cá con được sinh sản từ ba nguồn cá bố mẹ cá tự nhiên ở Cà Mau, Hậu Giang và cá nuôi ở Cần Thơ. Cá được nuôi trong bể 500 L được thiết kế hệ thống tuần hoàn và được cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp (chứa 40% đạm). Mỗi nguồn cá được bố trí với kích cỡ ban đầu khác nhau trong tổng số 4 lần lặp lại, riêng nguồn cá Cần Thơ được lặp lại 3 lần. Sau 2 tháng nuôi, khối lượng trung bình của cá ở các nghiệm thức dao động từ 5,70- 10,20 g và tốc độ tăng trưởng đặc thù (SGR) đạt 4,94-5,28%/ngày. Cá Cần Thơ có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tuy nhiên, sự khác biệt về các chỉ tiêu tăng trưởng giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Hệ số thức ăn (FCR) dao động từ 0,85 (Cần Thơ) đến 1,57 (Hậu Giang). Tỉ lệ sống cao nhất ở cá Cần Thơ (57,3%) và thấp nhất ở cá Hậu Giang (25,5%). Song, nguồn cá và kích cỡ ban đầu không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đối với FCR và tỉ lệ sống. Nhìn chung, nguồn cá nuôi Cần Thơ có tăng trưởng và tỉ lệ sống tốt hơn so với hai nguồn cá tự nhiên.

The study was aimed to evaluate effects of broodstock origin and offspring’s initial size on the growth and survival rates of bighead catfish (Clarias macrocephalus) fingerlings to provide information for a breeding program of the species. Three treatments of fingerlings were produced from three sources, including wild broodstock in Ca Mau and Hau Giang, and cultured fish in Can Tho. Fish was cultured in 500 L- tanks of a recirculating system and fed with commercial pellet (containing 40% protein). Each fish source was divided into two initial sizes and designed into four replicates, except three replicates for Can Tho source. After two months, weights of fish ranged 5.70-10.20 g and specific growth rates of fish were 4.94-5.28%/day. Can Tho fingerlings had the highest growth rates. However, differences in growth parameters were not significant among three broodstock sources and were not affected by the interaction between broodstock sources and the initial sizes (P>0.05). Feed conversion ratios (FCR) ranged from 0.85 (Can Tho) to 1.57 (Hau Giang). Survival rate of Can Tho fingerlings was highest (57.3%) and Hau Giang was lowest (25.5%). Broodstock sources and the initial sizes did not significantly affect FCR and survival rates. Generally, the offspring of bighead catfish from Can Tho source had better performance of growth and survival compared to fish from the two wild sources.

TTKHCNQG, CVv 403