



62
Công nghệ sinh học môi trường nói chung
BB
Trần Thị Tuyết Nhung, Ngô Đại Nghiệp; Ngô Đại Nghiệp(1);
Nghiên cứu tăng cường khả năng sinh astaxanthin ở nấm men Rhodosporidium toruloides sử dụng tác nhân gây đột biến benomyl và đánh giá hoạt tính bắt gốc tự do ABTS của astaxanthin
Study on the effect of benomyl on the ability to enhance astaxanthin production of Rhodosporidium toruloides and evaluate the free radical scavenging activity ABTS of astaxanthin
Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2024
8B
19-24
1859-4794
Astaxanthin, Benomyl, Rhodosporidium toruloides, 2,2′-azinobis-(3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid).
Astaxanthin, Benomyl, Rhodosporidium toruloides, 2,2′-azinobis-(3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid).
Astaxanthin là một xanthophyll carotenoid, có giá trị về mặt kinh tế khi được dùng làm chất tạo màu trong thực phẩm cũng như ứng dụng trong y dược. Nghiên cứu này sử dụng tác nhân ngẫu nhiên là chất diệt nấm benomyl để tăng cường sinh tổng hợp astaxanthin từ chủng nấm men Rhodosporidium toruloides. Benomyl đã cho hiệu quả gây đột biến tăng cường sinh astaxanthin ở các nồng độ thử nghiệm. Trong số các chủng đột biến được sàng lọc, chủng nấm men đã đột biến B18 (1138,51 μg/l) cho khả năng tích luỹ astaxanthin cao hơn 3,1 lần so với chủng bố mẹ. Chủng B18 có thời gian pha lag ngắn khoảng 5 giờ nuôi cấy và đi vào pha cân bằng sau 33 giờ, kéo dài trong 30 giờ và vào pha suy tàn sau 63 giờ lên men. Sau 96 giờ lên men là thời điểm hàm lượng astaxanthin tích lũy cao nhất, đạt 1138 μg/l. Kết quả thể hiện cao chiết astaxanthin thu được từ chủng B18 đột biến có khả năng dập tắt gốc tự do 2,2′-azinobis-(3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid) (ABTS) (IC50=8,531 μg/ml) cao gấp 6,2 lần so với vitamin E.
Astaxanthin is a xanthophyll carotenoid and it has economic value when it has been used as a colorant in food as well as when applied in medicine. This work aimed to attain Rhodosporidium toruloides mutants for enhanced astaxanthin accumulation using a benomyl agent. Benomyl treatment was shown to be efficient at different investigated concentrations for enhanced astaxanthin production of yeast. Among the screened mutants, B18 (1138.51 μg/l astaxanthin content) exhibited the highest astaxanthin production which was 3.1 times higher than that of the wild type. Mutant strain B18 consists of four phases including a lag phase of about 5 hours, 33 hours of log phase, 30 hours of stationary phase and a death phase after 63 hours of inoculation. The highest accumulated astaxanthin was 1138 μg/l after 96 hours of inoculation. The results showed that the scavenging capacity of 2,2′-azinobis-(3- ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid) - ABTS free radicals from the crude extract of astaxanthin from mutant strain B18 with IC50=8.531 μg/ml was 6.2 times higher than that of vitamin E.
TTKHCNQG, CVv 8