



14
Khoa học giáo dục học nói chung, bao gồm cả đào tạo, sư phạm học, lý luận giáo dục,..
BB
Nguyễn Lệ Hằng; Nguyễn Đức Ca; Nguyễn Ngọc Ánh; Triệu Thị Linh; Phạm Ngọc Dương; Hoàng Thị Minh Anh; Nguyễn Hoàng Giang; Nguyễn Hoàng Giang(1);
Mô hình đại học thông minh: Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Smart university model: World experience and recommendations for Vietnam
Tạp chí Giáo dục
2024
22
25-30
2354-0753
Giáo dục; Trường đại học; Người mẫu; Đại học thông minh; giáo dục thông minh
Education; University; Model; Smart university; Smart education
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đã tạo ra những thay đổi to lớn và mạnh mẽ trong nền kinh tế, xã hội và mọi mặt của đời sống con người. Cần có sự hiểu biết toàn diện và chính xác về mô hình đại học thông minh. Bài viết này nhằm trả lời câu hỏi “Mô hình trường đại học thông minh là gì?”, những đặc điểm và thành phần cơ bản tạo nên mô hình này; tìm kiếm, phân tích, tổng hợp các tài liệu khoa học liên quan đến mô hình đại học thông minh của một số nước trên thế giới. Theo đó, các nhà nghiên cứu rút ra một số bài học liên quan đến việc phát triển và triển khai mô hình đại học thông minh ở Việt Nam, qua đó góp phần quan trọng giúp các trường đại học Việt Nam thực hiện tốt vai trò, xứng đáng với vị thế của mình và góp phần nhiều hơn vào việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức Việt Nam.
The strong development of digital technologies has created tremendous and robust changes in the economy, society and all aspects of human life. A comprehensive and accurate understanding of the smart university model is necessary. This article aims to answer the question “What is the smart university model?”, the basic characteristics and components that make up this model; search, analyze and synthesize scientific documents related to the smart university model of some countries in the world. Accordingly, the researchers draw a number of lessons related to developing and implementing the smart university model in Vietnam, thereby making an important contribution to helping Vietnamese universities perform their roles well and deserve their status and contribute more to promoting the development of Vietnam’s knowledge economy.
TTKHCNQG, CVv 216