Chi Cynanchum L. gồm khoảng 200 loài phân bố chủ yếu ở nam châu Á, châu Phi, châu Âu, bắc và nam Mỹ. Trước nghiên cứu này, trên cơ sở tham khảo các tài liệu J. Costantin (1912) , P.T. Li et al. (1995), Phạm Hoàng Hộ (2003), Trần Thế Bách (2005), Trần Thế Bách & Vũ Xuân Phương (2004), Trần Thế Bách (2017) và www.theplantlist.org (cập nhật ngày 10 tháng 7 năm 2018), 5 loài của chi Cynanchum đã được ghi nhận ở Việt Nam là C. corymbosum Wight, C. officinale (Hemsl.) Tsiang & H.T. Zhang, C. utriculosum Costantin, C. stauntonii (Decne.) Schltr. ex H.Lév., C. verticillatum Hemsl.. Trong nghiên cứu này, loài Cynanchum insulanum (Hance) Hemsl. (Apocynaceae, Asclepiadoideae) được khẳng định là ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam. Loài này đã được mô tả, minh họa bằng hình vẽ và ảnh. Khóa định loại các loài của chi Cynanchum ở Việt Nam đã được xây dựng. Loài có đặc điểm hình thái giống nhất với loài C. utriculosum vì có cuống cụm hoa, cuống hoa nhẵn và chiều dài chuôi của cơ quan truyền phấn ngắn hơn 80 μm. Tuy nhiên, loài này phân biệt với C. utriculosum bởi nụ hoa dài 1,8-2,4 mm và chuôi của cơ quan truyền phấn dài hơn 40 μm. Mẫu tiêu bản của loài C. insulanum được thu thập tại đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng và hiện nay được lưu giữ tại Phòng tiêu bản (HN) thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.