Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  14,926,460

Nuôi trồng thuỷ sản

Triệu Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Viết, Thái Thanh Bình; Nguyễn Xuân Viết(1)

Ảnh hưởng đồng thời của hình thức và mật độ nuôi tới tỉ lệ sống, sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của tu hài (lutraria rhynchaena) tại Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Combined effects of the farming methods and density on the survival rate, growth, yield, and economic efficiency of otter clam (Lutraria rhynchaena) in Van Don, Quang Ninh Province

Khoa học (Đại học Sư phạm Hà Nội)

2021

4F

3-10

2354-1075

Ảnh hưởng đồng thời; Hình thức; Mật độ nuôi; Tỉ lệ sống; Sinh trưởng; Năng suất; Hiệu quả kinh tế; Tu hài; Lutraria rhynchaena

Otter clam, density, farming methods, growth, survival rate, yield, economic efficency, Van Don.

Nghiên cứu tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của hình thức nuôi và mật độ lên tỉ lệ sống, sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của tu hài thương phẩm tại vùng biển Vân Đồn, Quảng Ninh. Tu hài có chiều dài ban đầu 18,36 mm/con và khối lượng trung bình đạt 4,12 g/con được sử dụng làm vật liệu nghiên cứu ban đầu. Hai hình thức nuôi được bố trí là nuôi thả trong lồng (rổ) treo trên bè (gồm các thí nghiệm TN1, TN2, TN3 và TN4) và nuôi lồng đặt bãi triều (gồm thí nghiệm TN5, TN6, TN7 và TN8), mỗi hình thức nuôi có 4 công thức về mật độ thả 25 con/lồng (100 con/m2) (TN1, TN5), 35 con/lồng (140 con/m2) (TN2, TN6); 45 con/lồng (180 con/m2) (TN3, TN7); và 55 con/lồng (220 con/m2) (TN4, TN8), mỗi công thức thí nghiệm lặp lại 3 lần. Sau 12 tháng nuôi thí nghiệm, kết quả cho thấy mật độ và hình thức nuôi có ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỉ lệ sống và năng suất tu hài thương phẩm. Sinh trưởng tu hài dao động từ 28,76 - 41,74 g/con, chiều dài dao động từ 51,17 -72,69 mm, tỉ lệ sống dao động từ 57,4 - 78,3%, sinh trưởng cao nhất ở công thức với mật độ 25 con/lồng, sai khác giữa các nghiệm thức có ý nghĩa thống kê (p ≤ 0,05). Năng suất trung bình tu hài thương phẩm tăng theo sự tăng mật độ thả, dao động từ 21,7 - 38,3 tấn/ha, sai khác có ý nghĩa thống kê (p ≤ 0,05). Tuy nhiên hạch toán kinh tế cho thấy, hiệu quả kinh tế đạt cao nhất tại TN2 khi nuôi theo hình thức treo lồng trên bè và thả nuôi với mật độ 35 con/lồng (140 con/m2). Ở công thức này, sinh trưởng về khối lượng và kích thước chiều dài trung bình thu được đạt 38,91 g/con và 68,47 mm/con, tỉ lệ sống đạt 76,4%, năng suất đạt 32,9 tấn/ha, lợi nhuận đạt 0,883 tỉ đồng và tỉ suất lợi nhuận đạt 28,1%. Từ kết quả nghiên cứu có thể khuyến nghị với người dân thả nuôi với mật độ 35 con/lồng

This study was conducted to evaluate the effects of farming methods and density on the survival rate, growth, yeild and economic efficency of commercial otter clam in the sea waters of Van Don, Quang Ninh. The otter clams with an initial length of 18,36 mm and an average body weight of 4,12 g were used in this study. Two farming methods were arranged: cage culture (basket) hanging on the raft (including experiments TN1, TN2, TN3 and TN4) and cage culture placed on tidal flats (including experiments TN5, TN6, TN7 and TN8). For each culture, there were 4 formulas for stocking density of 25 individuals/cage (100 individuals/m2) (TN1, TN5), 35 individuals/cage (140 individuals/m2) (TN2, TN6); 45 individuals/cage (180 individuals/m2) (TN3, TN7); and 55 individuals/cage (220 individuals/m2) (TN4, TN8). Each treatment was triplicate and lasted for 12 months, the results showed that the density and farming methods had different effects on growth, survival rate and yield of commercial otter clam. The weight of the commercial otter clam ranged from 28,76 to 41,74 g/individual, the length varied from 51,17 to 72,69 mm/individual, and the survival rate fluctuated from 57,4 to 78,3%. The highest growth was recorded in the TN1 with density of 25 individuals/cage, the difference between treatments was statistically significant (p≤ 0.05). The average yield of commercial otter clam increased with the increase of stocking density, ranging from 21,7 to 38,3 tons/ha, the difference was statistically significant (p≤ 0,05). However, economic accounting showed that the economic efficiency was highest in TN2, the ottet clams were arranged in the cage hanging on rafts and stocking at a density of 35 individuals/cage (140 individuals/m2). In this experiment, the average growth in weight was 38,91 g/individual and in length was 68,47 mm/individual, the survival rate was 76,4%, and the yield was 32,9 tons/ha the economic profit reached 0,883 billion of Vietnam Dong and the profit rate reached 28,1, respectively. Based on these research results, it could be recommended to farmers to stock the otter clam with a density of 35 individuals/cage.

TTKHCNQG, CVv 157