
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ thành phần loài và tình trạng kháng thuốc của nấm Candida gây viêm sinh dục ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tại một số bệnh viện Hà Nội; Đề xuất các giải pháp dự phòng và điều trị
- Xây dựng mô hình trồng thâm canh giống Lạc đen CNC1 tại tỉnh Phú Thọ
- Nghiên cứu phát triển chip sinh học đếm tế bào lympho T CD4+ để đánh giá mức độ suy giảm miễn dịch sử dụng công nghệ nano và hệ vi lưu
- Nghiên cứu thực trạng giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động thiết chế văn hóa cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở Thanh Hóa giai đoạn 2012-2020
- Thiết kế tổng hợp thử tác kháng ung thư của các dẫn chất N-hydroxybenzamid mới
- Ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp nghiên cứu sản xuất thử nghiệm phân bón chuyên dùng cho nhãn chín muộn huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên
- Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam
- Nghiên cứu bào chế viên nang chứa hệ nano tự nhũ hóa rosuvastatin
- : Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất sơ chế bào chế dược liệu hỗ trợ điều trị chứng thừa cân béo phì cholesterol máu cao gan nhiễm mỡ từ nguồn dược liệu trên địa bàn tỉnh
- Hoàn thiện công nghệ tách sợi chế tạo các dạng bán thành phẩm từ sợi dừa và ứng dụng cho vật liệu composite



- Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ
103.01-2017.01
2020-54-845/KQNC
Khảo sát chuyển pha trong hệ đơn giản 2 chiều với thế tương tác square bằng phương pháp động lực học phân tử
Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh
Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Quốc gia
GS.TS. Võ Văn Hoàng
ThS. Dương Thị Như Tranh, ThS. Lê Nguyễn Tuệ Minh, KTV. Lê Như Ngọc, KTV. Nguyễn Thị Kim Phụng, KTV. Đặng Minh Tân, KTV. Nguyễn Hoàng Giang
Vật lý nguyên tử, vật lý phân tử và vật lý hóa học
01/12/2017
01/05/2020
31/12/2019
2020-54-845/KQNC
24/08/2020
Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia
Các kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ đề tài đạt được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (03 bài báo ISI uy tín, 01 bài báo quốc tế uy tín) và các kết quả nghiên cứu được đăng trên tạp chí chuyên ngành trong nước/ báo cáo tại các hội nghị chuyên ngành. Một số nội dung kết quả sản phẩm khoa học được thông tin chi tiết bên dưới:
- Khảo sát chuyển pha từ cấu trúc dạng lưới ô vuông sang dạng lưới tam giác của chất rắn 2 chiều đơn giản đơn nguyên tử với thế tương tác square cho thấy chuyển pha này là chuyển pha dạng martenstic: chuyển pha không do sự khuếch tán của nguyên tử mà do sự tái sắp xếp các nguyên tử thông qua dịch chuyển nhỏ mang tính địa phương (local motion). Như vậy, có thể dùng hệ đơn giản đơn nguyên tử này để nghiên cứu sâu hơn chuyển pha martensitic (đã đăng: Vo Van Hoang, Nguyen Hoang Giang, Compression-induced square-triangle solid-solid phase transition in 2D simple monatomic system, Physica E: Low-dimensional Systems and Nanostructures 113 (2019) 35^12 (tạp chí Q2, IF=3.17)..
- Chúng tôi khảo sát ảnh hưởng của thế tương tác lên quá trình hình thành trạng thái vô định hình và tinh thể của penta-silicene (có cấu trúc dạng lưới ngũ giác) và tetra-silicene (có cấu trúc dạng lưới ô vuông) khi làm lạnh từ trạng thái lỏng. Nguyên nhân: thế tương tác COMB có biểu thức phức tạp hơn (có sự cạnh tranh của nhiều cực tiểu năng lượng trong sự sắp xếp các nguyên tử lân cận nhau) dẫn đến hình thành penta-silicene thay vì hình thành tetra-silicene như thế Stillinger-Weber (là thế có biểu thức đơn giản hơn). Nghiên cứu này mang tính định hướng cho chế tạo tetra hay penta silicene trên thực tế (đã đăng: Vo Van Hoang, Nguyen Hoang Giang, To Quy Dong, Amorphous and ‘crystalline ’ penta-silicene, Philosophical Magazine đã đăng online 17/04/2020. (tạp chí ISI uy tín theo danh sách ISI uy tín năm 2016 của quỹ, gửi đăng 21/06/2019 là tạp chí Q2, IF= 1.85; trước 2015 là tạp chí Q1).
- Chúng tôi khảo sát chuyển pha hexa-tetra silicene bằng cách nén hexa-silicene cũng như chuyển pha ngược lại tetra-hexa silicene bằng cách nung nóng tetra-silicene có những quy luật sau: (a) Tetra- silicene có thể hình thành bằng cách nén hexa-silicene ở trạng thái rắn và lỏng, tuy nhiên, tera-silicene có chất lượng cao nhất khi hình thành ở nhiệt độ đủ cao (1000 K) nhưng dưới nhiệt độ nóng chảy đủ xa; (b) Chuyển pha hexa-tetra silicene (hay chuyển pha ngược lại tetra-hexa) có biểu hiện là chuyển pha loại I (đã đăng: Vo Van Hoang, Nguyen Hoang Giang, Vladimir Bubanja, Hexa <-> tetra silicene crystal-crystal phase transition, Philosophical Magazine 100, 551 (2020) (tạp chí ISI uy tín theo danh sách ISI uy tín năm 2016 của quỹ, gửi đăng 26/05/2019 là tạp chí Q2, IF= 1.85; trước 2015 là tạp chí Ql).
- Nghiên cứu bằng phương pháp MD hay DFT cho thấy sự tồn tại của dạng vật liệu 2 chiều mới: vật liệu 2 chiều FeC phang có cấu trúc dạng lưới ô vuông. Đây là vật liệu có tính sắt từ - có thể có nhiều ứng dụng trong công nghệ thiết bị vi mô (đã đăng: Vo Van Hoang, Tran Thi Thanh Thuy, Nguyen Hoang Giang, To Quy Dong, Two- dimensional FeC compound with square and triangle lattice structure - Molecular dynamics and DFT Study, Computational Materials Science 181, 109730 (2020) (tạp chí ISI uy tín theo danh mục 2019 của quỹ, gửi đăng 09/10/2019 là tạp chí Ql, IF= 2.64).
Ý nghĩa khoa học từ kết quả của đề tài: nghiên cứu sự tồn tại/ các tính chất mới/ khảo sát quá trình chuyển pha của chất rắn 2 chiều đơn giản đơn nguyên tử/ vật liệu 2 chiêu penta-silicene, tetra-silicene, ... đã công bố trên các tạp chí quốc tế/trong nước uy tín nhằm cung cấp/ bổ sung dữ liệu cho các nghiên cứu sâu hơn/ mở rộng hơn về vật liệu 2 chiều (loại vật liệu đang được nghiên cứu mạnh ở hiện tại và tương lai để ứng dụng vào các linh kiện thiết bị phục vụ sản xuất và đời sống). Đây là đề tài lý thuyết nên không có ứng dụng trên thực tế cũng như không có tác động kinh tế, xã hội ... Tuy nhiên, kết quả của đề tài có tác dụng định hướng cho việc sản xuất và ứng dụng vật liệu 02 chiều trong thực tế.
Khảo sát; Chuyển pha; Hệ đơn giản; Tương tác square; Phương pháp; Động lực học; Phân tử
Ứng dụng
Đề tài KH&CN
Khoa học tự nhiên,
Kết quả của đề tài có tác dụng định hướng trong sản xuất và ứng dụng của vật liệu 2 chiều
Số lượng công bố trong nước: 4
Số lượng công bố quốc tế: 4
Không
01 Tiến sĩ, 03 thạc sĩ